Trong thực tế, Máy đo điện trở tiếp địa có thể áp dụng các phương pháp như đo ba điểm hoặc bốn điểm, tùy đặc điểm hệ thống và điều kiện triển khai. Kết quả đo phụ thuộc đồng thời vào điện cực, đất xung quanh và cách bố trí mạch đo. Với hệ thống có nhiều đường nối đất song song, việc xác định đúng đối tượng đang được đo còn quan trọng hơn việc đọc một con số trên màn hình.
Vị trí cọc phụ có thể làm thay đổi kết quả
Trong phép đo điện trở tiếp địa bằng cọc, vùng đất xung quanh điện cực tạo thành một vùng ảnh hưởng về điện. Cọc dòng và cọc thế phải được đặt đủ xa để các vùng ảnh hưởng này không chồng lấn đáng kể.
Nếu cọc thế nằm trong vùng ảnh hưởng của điện cực cần kiểm tra, chỉ cần dịch chuyển cọc vài mét, kết quả có thể thay đổi rõ rệt. Khi đó, giá trị hiển thị chưa thể dùng để kết luận điện trở của điện cực.
Một cách kiểm tra trực tiếp là dịch chuyển cọc thế về hai phía và đo lại. Nếu các giá trị gần nhau, vị trí cọc có độ ổn định tốt hơn. Nếu số đo biến động mạnh, cần tăng khoảng cách của cọc dòng và thực hiện lại phép đo.
Vì vậy, khoảng cách cọc không nên được chọn chỉ theo một con số cố định. Độ sâu điện cực, kích thước hệ thống và đặc tính đất đều có thể làm thay đổi khoảng cách cần thiết.
Một phép đo có thể bao gồm nhiều đường nối đất
Một điện cực có thể được nối song song với các điện cực khác thông qua dây bảo vệ, kết cấu kim loại, hệ thống chống sét hoặc các điểm liên kết đất khác. Nếu đo theo phương pháp truyền thống mà không tách điện cực cần kiểm tra khỏi mạng nối đất, thiết bị có thể ghi nhận ảnh hưởng của các đường dẫn song song.
Kết quả khi đó không nhất thiết là điện trở riêng của điện cực đang quan tâm mà có thể phản ánh đặc tính của cả mạng nối đất. Megger cũng lưu ý rằng các đường dẫn song song từ hệ thống nối đất có thể ảnh hưởng đến phép đo điện cực riêng lẻ.
Điều này tạo ra một khác biệt quan trọng giữa hai mục tiêu kiểm tra: đánh giá toàn bộ hệ thống nối đất và xác định điện trở của một điện cực cụ thể. Hai mục tiêu này không nên sử dụng cùng một cách diễn giải kết quả.
Đo bằng cọc và đo bằng kìm khác nhau
Phương pháp đo bằng cọc phù hợp khi có thể tiếp cận đất và bố trí được các điện cực phụ. Phương pháp này có thể đánh giá điện trở của điện cực hoặc hệ thống theo cấu hình đo đã chọn.
Với hệ thống có nhiều nhánh nối đất song song, máy đo hỗ trợ phương pháp chọn lọc có thể kết hợp cọc phụ với kìm để xác định điện trở của từng nhánh mà không cần tháo kết nối của điện cực khỏi hệ thống.
Phương pháp kẹp không dùng cọc lại hoạt động theo điều kiện khác. Nó dựa vào một vòng mạch nối đất có nhiều đường dẫn song song để tạo và thu dòng đo. Vì vậy, nếu đối tượng chỉ có một đường duy nhất xuống đất, phương pháp này không phù hợp để xác định điện trở tiếp địa theo cách thông thường.
Đây là tiêu chí quan trọng khi lựa chọn máy: hệ thống có bao nhiêu đường nối đất và có thể tách điện cực khỏi mạng hay không thường quyết định phương pháp đo phù hợp.

Dòng điện ký sinh có thể nằm ngay trong mạch đo
Hệ thống nối đất đang vận hành có thể tồn tại dòng điện từ thiết bị điện, dòng rò, nhiễu và các thành phần hài. Những tín hiệu này có thể đi vào mạch đo và làm kết quả dao động.
Vấn đề rõ hơn tại các khu công nghiệp, trạm điện hoặc công trình có nhiều thiết bị công suất lớn. Khi đó, việc chọn tần số đo phù hợp giúp giảm ảnh hưởng của nhiễu bên ngoài. Một số máy đo điện trở nối đất cao cấp sử dụng khả năng tự lựa chọn tần số đo để tìm vùng ít nhiễu hơn.
Đường dây đo cũng cần được bố trí hợp lý. Cáp đo chạy song song với dây nguồn, thanh kim loại, đường ray hoặc các dây dẫn khác có thể tạo ra ảnh hưởng ghép điện từ và làm thay đổi kết quả.
Vì vậy, một kết quả dao động không nhất thiết xuất phát từ hệ thống tiếp địa. Cần phân biệt biến động của đối tượng thử với nhiễu do môi trường đo.
Đất thay đổi theo mùa, điện trở tiếp địa cũng thay đổi
Điện trở suất của đất phụ thuộc vào độ ẩm, thành phần đất và nhiệt độ. Sau những giai đoạn mưa kéo dài hoặc khô hạn, cùng một hệ thống tiếp địa có thể cho các giá trị khác nhau.
Điều này khiến việc so sánh hai kết quả đo ở hai thời điểm bất kỳ dễ dẫn đến đánh giá sai xu hướng. Khi theo dõi định kỳ, nên ghi lại điều kiện đất và thời tiết cùng với kết quả đo. Megger cũng chỉ ra rằng điện trở suất đất có thể biến đổi theo mùa và cần được xem xét trong quá trình đánh giá hệ thống.
Một giá trị cao hơn lần trước chưa đủ để kết luận điện cực xuống cấp. Giá trị có ý nghĩa hơn khi được đặt cạnh các phép đo được thực hiện trong điều kiện tương đương.
Đừng đánh giá phép đo chỉ bằng một con số
Một phép đo đáng tin cậy cần có khả năng lặp lại. Với phương pháp sử dụng cọc, có thể kiểm tra bằng cách thay đổi vị trí cọc thế hoặc thay đổi hướng bố trí các cọc. Nếu kết quả vẫn giữ được độ ổn định, mức độ tin cậy của phép đo sẽ cao hơn. AEMC khuyến nghị thực hiện các phép đo ở các vị trí khác nhau để nhận biết ảnh hưởng của dòng điện trong đất hoặc điều kiện địa chất cục bộ.
Đây là cách nhìn hữu ích hơn việc chỉ đối chiếu kết quả với một ngưỡng điện trở cho trước. Hai phép đo cùng cho giá trị thấp nhưng một phép đo ổn định và một phép đo thay đổi mạnh theo vị trí cọc không mang cùng mức độ tin cậy.
Dữ liệu kiểm tra nên lưu cùng vị trí điện cực, phương pháp đo, khoảng cách cọc, điều kiện thời tiết và các ghi chú bất thường tại hiện trường. Khi dữ liệu được duy trì qua nhiều chu kỳ, sự thay đổi của hệ thống sẽ dễ nhận biết hơn.
Chọn máy đo điện trở tiếp địa theo cấu trúc hệ thống nối đất
Việc lựa chọn máy đo điện trở tiếp địa cần dựa vào cấu trúc hệ thống nối đất và phương pháp kiểm tra dự kiến, thay vì chỉ xét dải đo. Với điện cực độc lập và khu vực có đủ không gian, phương pháp đo bằng cọc phụ có thể xác định điện trở tiếp địa của điện cực. Khi hệ thống gồm nhiều điện cực nối song song, phương pháp đo chọn lọc hoặc đo bằng kìm cho phép kiểm tra từng nhánh mà không nhất thiết phải tháo kết nối.
Khả năng tiếp cận vị trí đo cũng ảnh hưởng đến lựa chọn thiết bị. Những khu vực chật hẹp, nền bê tông hoặc hệ thống đã đưa vào vận hành có thể hạn chế việc đóng cọc phụ, trong khi môi trường có nhiễu điện lại đòi hỏi máy có khả năng xử lý nhiễu phù hợp.
Do đó, trước khi chọn máy đo điện trở đất cần xác định rõ đối tượng cần đo là một điện cực hay toàn bộ hệ thống, cấu trúc các nhánh nối đất, điều kiện bố trí cọc và mức nhiễu tại vị trí kiểm tra. Một phép đo chỉ có giá trị khi đúng đối tượng, đúng phương pháp và cho kết quả ổn định trong điều kiện kiểm tra thực tế.





