Máy đo độ dày lớp phủ sơn cần phân biệt được riêng lớp sơn và lớp kẽm trên nền thép. PosiTector 6000 FNDS1 thực hiện phép đo không phá hủy và hiển thị chiều dày từng lớp trong một lần đọc.
Thiết bị kết hợp nguyên lý đo từ tính và dòng điện xoáy ở chế độ Duplex để kiểm tra lớp sơn hoặc sơn bột phủ trên thép đã mạ kẽm.
Hệ sơn duplex là gì và bảo vệ thép như thế nào?
Hệ sơn duplex là sự kết hợp của hai cơ chế bảo vệ chống ăn mòn: lớp kẽm và lớp sơn hoặc sơn bột bên ngoài. Hệ này thường được tạo thành từ sơn phủ trên thép mạ kẽm nhúng nóng, mạ điện hoặc mạ kẽm phun kim loại.
Thép có thể bị ăn mòn khi chất điện phân kết nối các anode và cathode trên bề mặt, hình thành gỉ sắt. Lớp kẽm có vai trò bảo vệ catốt như một anode hy sinh, trong khi sơn tạo hàng rào hạn chế chất điện phân tiếp xúc với thép.
Theo dữ liệu cung cấp, việc phối hợp hai cơ chế này đem lại khả năng bảo vệ cao hơn khi từng cơ chế được sử dụng độc lập. Các lợi ích được nêu gồm kéo dài tuổi thọ hệ phủ và nền vật liệu, giảm nhu cầu sửa chữa dặm vá, hỗ trợ mã hóa màu và cải thiện tính thẩm mỹ.
Vì sao đo riêng lớp sơn và lớp kẽm của hệ duplex lại quan trọng?
Đo riêng từng lớp giúp người kiểm tra biết chiều dày của lớp sơn và lớp kẽm, thay vì chỉ có tổng chiều dày của cả hệ phủ. Điều này đặc biệt đáng lưu ý vì lớp kẽm có thể không đồng đều trên toàn bộ chi tiết hoặc kết cấu.
Chiều dày lớp mạ kẽm có thể phụ thuộc vào chiều dày, độ nhám, thành phần hóa học và thiết kế của thép được mạ. Vì vậy, cách tính một lớp bằng hiệu số của các phép đo có thể bị ảnh hưởng nếu giả định lớp kẽm không thay đổi theo vị trí đo.

Các cách đo thông thường đối với hệ sơn duplex có hạn chế gì?
Một cách đo thông thường là dùng máy đo từ tính, chẳng hạn PosiTector 6000 F1 hoặc PosiTest DFTF, để đo lớp kẽm rồi đo tổng chiều dày lớp kẽm và sơn. Hiệu số giữa hai kết quả được xem là chiều dày lớp sơn.
Cách này dựa trên giả định rằng chiều dày kẽm không biến đổi. Khi lớp kẽm không đồng đều, giả định đó có thể làm kết quả suy ra cho lớp sơn không phản ánh đúng từng vị trí.
Một phương pháp khác dùng đầu dò kết hợp từ tính và dòng điện xoáy như PosiTector 6000 FN3. Người dùng lấy một kết quả ở chế độ dòng điện xoáy để xác định lớp sơn, sau đó lấy một kết quả ở chế độ từ tính để xác định tổng chiều dày hệ phủ; hiệu số được xem là chiều dày kẽm.
Cả hai cách đều cần hai lần đọc và đều dùng phép tính hiệu số. Dữ liệu nguồn đánh giá các quy trình này tốn thời gian hơn và có khả năng phát sinh sai sót trong quá trình đo hoặc suy ra kết quả.
PosiTector 6000 FNDS1 đo chiều dày hệ sơn duplex bằng cách nào?
Ở chế độ Duplex, PosiTector 6000 FNDS1 đo và hiển thị riêng chiều dày lớp sơn cùng lớp kẽm chỉ trong một lần đọc. Thiết bị sử dụng đồng thời nguyên lý từ tính cho nền kim loại sắt từ và nguyên lý dòng điện xoáy cho lớp kẽm không sắt từ.
Nguyên lý từ tính dùng để đo chiều dày kết hợp của lớp sơn và lớp kẽm trên nền thép. Nguyên lý dòng điện xoáy đo chiều dày lớp sơn trên lớp kẽm, sau đó chiều dày kẽm được tính bằng cách lấy chiều dày tổng sơn/kẽm trừ đi chiều dày lớp sơn.
Nhờ thực hiện các bước này trong một lần đọc, thiết bị tránh quy trình người dùng phải tự lấy hai phép đo riêng biệt rồi tính chênh lệch. Kết quả hướng đến việc nhận biết trực tiếp từng thành phần của hệ phủ duplex tại điểm kiểm tra.
Khi nào nên dùng chế độ Duplex của PosiTector 6000 FNDS1 ?
Chế độ Duplex phù hợp khi bề mặt là thép có lớp kẽm và có thêm lớp sơn hoặc sơn bột, đồng thời cần theo dõi riêng chiều dày từng lớp. Đây là tình huống mà tổng chiều dày hệ phủ đơn lẻ không cung cấp đầy đủ thông tin về lớp sơn và lớp kẽm.
Máy đo độ dày lớp phủ sơn tại nhiều vị trí có thể cần thiết khi kết cấu có khác biệt về độ nhám, thiết kế hoặc đặc tính thép, vì các yếu tố này được nêu là có thể làm lớp mạ kẽm không đồng đều.





